CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG YECXANHCÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG YECXANH

Công nghệ lọc nước RO: (Màng lọc thẩm thấu ngược)

Hiện nay trên thị trường máy lọc nước có thể uống được, chủ yếu nổi lên ba Công nghệ lọc nước, đó là: RO (REVERSE OSMOSIS), UF (ULTRA FILTRATION) và Nano

Tuy nhiên để có cái nhìn cụ thể hơn về những công nghệ này, chúng ta cùng đi tìm hiểu và so sánh các ưu nhược điểm từng loại.

 

So sánh Công nghệ lọc nước

 

1. Công nghệ lọc nước RO: (Màng lọc thẩm thấu ngược)

Công nghệ máy lọc nước Ro thực tế là màng lọc thẩm thấu ngược, xuât hiện trên thế giới và có mặt trên thị trường Việt Nam rất lâu.

Công nghệ RO (thẩm thấu ngược) là công nghệ lọc nước tiên tiến và triệt để nhất hiện nay. Vì các khe hở màng lọc RO có kích cỡ 0,001 micromet, giống như cơ chế hoạt động của thận người, ngăn tất cả các loại chất, vi khuẩn, virus,… và thải ra ngoài. Công nghệ này sẽ cho ra sản phẩm nước hoàn toàn nguyên chất (nước tinh khiết)

    Yếu điểm:

– Công nghệ lọc RO sẽ cho ra nước tinh khiết, đồng thời cũng loại bỏ hoàn toàn khoáng chất có trong nước (uống nước tinh khiết trong thời gian dài làm cho cơ thể thiếu đi 1 số khoáng chất cần thiết)

– Tốn nước nhiều, vì việc cho ra nước tinh khiết đồng nghĩa với việc phải loại bổ một luợng nước thải tương đương.

    Cách khắc phục:

– Công nghệ mới của hệ thống lọc nước RO đã có thêm chức năng bổ sung khoáng chất có lợi cho cơ thể, cụ thể là bổ sung thêm trụ lọc tinh và tạo khoáng ở bước lọc cuối cùng.

– Lượng nước thải ra có thể tái sử dụng vào những việc như: tưới cây, giặt đồ, vệ sinh nhà cửa…

 

2. Công nghệ lọc nước UF: (Màng Siêu lọc)

 Màng lọc UF (UltraFiltration) hay còn gọi là màng siêu lọc, là một công nghệ lọc dùng màng áp suất thấp để ngăn những phân tử có kích thuớc lớn hơn không thể qua được màng lọc. Dưới một áp suất không quá 2,5 bars, nước, muối khoáng và các phân tử/ ion nhỏ hơn lỗ lọc (0.1- 0.005 micron) sẽ “chui” qua màng dễ dàng. Các phân tử lớn hơn, các loại virus, vi khuẩn gây hại sẽ bị ngăn lại. 

    Yếu điểm:

Những chất khoáng còn lại trong nước có thể sẽ không có lợi cho cơ thể.

    Cách khắc phục:

Cần xác định rõ nguồn nước đầu vào, các chỉ tiêu lý hóa cần phải đạt tiêu chuẩn nguồn nước sinh hoạt của bộ y tế (Nước máy)

 

 

3. Công nghệ lọc nước Nano:

Mới xuất hiện trên thị trường kinh doanh mặc dù công nghệ có từ những năm 80.

Công nghệ Nano có các khe hở to hơn RO nhưng nhỏ hơn UF. Như vậy cũng sẽ lọc được vi khuẩn, virus nhưng không loại bỏ hoàn toàn hàm lượng chất khoáng. Tuy nhiên, các chất còn lại đó sẽ có lợi hoàn toàn hay không, thì chưa có câu trả lời vì còn phụ thuộc vào nguồn nước đầu vào.

    Yếu điểm:

– Công nghệ Nano không qua hệ thống xử lý thô sẽ dễ gây tắc màng, những chất khoáng còn lại trong nước có thể sẽ không có lợi cho cơ thể, giá thành cao.

    Cách khắc phục:

Với công nghệ lọc của máy lọc nước Nano, người sử dụng phải xác định trước nguồn nước để dùng Nano hiệu quả hơn.

THUYẾT MINH SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ

Khí thải phát sinh từ quá trình đốt chất thải y tế trước tiên được thu gom bằng đường ống thoát khí của công ty được dẫn vào Tháp giải nhiệt – lắng bụi, tại đây có thiết kế tấm chắn dòng và hệ thống phun sương, tấm chắn dòng làm dòng khí đổi hướng đột ngột, lượng bụi có kích thước lớn rơi xuống, lượng bụi có kích thước nhỏ bị dòng phun sương lôi cuốn ra khỏi dòng khí. Mặc khác, hệ thống phun sương còn có tác dụng hạ nhiệt độ dòng khí… Sau đó, khí thải được quạt hút đẩy vào tháp hấp thụ, tháp hấp thụ có nhiệm vụ loại bỏ các chất độc có trong khí thải như: khí CO , NOx, SOx, bụi…

Khí thải đi từ đáy tháp hấp thụ và bị phân tán mỏng ra xung quanh tháp. Khi đó dung dịch hấp thụ được đưa vào tháp theo hướng từ trên xuống bằng bơm. Tháp hấp thụ có đặt vòng sứ Raschig trong tháp.

Dung dịch hấp thụ được sử dụng là dung dịch hóa chất Vôi được pha và chứa trong bể chứa. Dòng dung dịch được bơm vào ở dạng các tia nhỏ nhằm tạo điều kiện tiếp xúc tốt nhất giữa khí thải với dung dịch.

Khí thải từ đáy tháp đi lên gặp dòng dung dịch đi từ trên xuống, lúc này quá trình phản ứng giữa các loại khí độc có trong dòng khí thải và dung dịch hấp thụ diễn ra. Kết quả là các loại khí độc này bị loại ra. Dòng khí thải sau khi qua tháp hấp thụ  trở thành khí sạch đi ra môi trường bằng ống khói ra ngoài.

Dung dịch hấp thụ sau khi qua tháp được thu lại tại bể chứa dung dịch hấp thụ và tiếp tục cho bơm lên tháp cho quá trình phản ứng tiếp theo. Trước khi vào tháp, dòng dung dịch này lại được châm thêm hóa chất hấp thụ để tạo nồng độ ổn định, thích hợp cho quá trình hấp thụ các khí CO2, NOx, SOx …

Phần cặn lắng trong bồn tuần hoàn sẽ được thu gom và xử lý theo qui định.

Khí sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT. CỘT B

Lò Khí Hơi

Thuyết minh công nghệ:

Dòng khí lò hơi sẽ theo đường ống dẫn khí đi đến Cyclon. Cyclon là thiết bị hình trụ chữ nhật có miệng dẫn khí vào ở phía trên. Không khí vào cyclon sẽ chảy xoáy theo đường xoắn ốc dọc bề mặt trong của vỏ hình trụ. Xuống tới phần phễu, dòng khí sẽ chuyển động ngược lên trên theo đường xoắn ốc và qua ống tâm thoát ra ngoài. Hạt bụi trong dòng không khí chảy xoáy sẽ bị cuốn theo dòng khí vào chuyển động xoáy. Lực ly tâm gây tác động làm hạt bụi sẽ rời xa tâm quay và tiến về vỏ ngoài cyclon. Đồng thời, hạt bụi sẽ chịu tác động của sức cản không khí theo chiều ngược với hướng chuyển động, kết quả là hạt bụi dịch chuyển dần về vỏ ngoài của cyclon, va chạm với nó, sẽ mất động năng và rơi xuống phễu thu. Ở đó, hạt bụi đi qua thiết bị xả đi ra ngoài. Cyclon này hiệu suất lọc hạt bụi ≤ 5 µm đạt tới 85 ÷ 90%. Các loại cyclon này thường có cánh xoắn ở miệng vào với góc nghiêng 25~30O. Đường kính ống trung tâm d=158~133mm, vận tốc trung bình trong mắt cắt ngang v=3,5~4,75 m/s. Còn phần khí bị hút bởi quạt hút ly tâm được đưa đến tháp xử lý khí hấp phụ.

Để xử lý triệt để khí thải ô nhiễm, chúng tôi đưa ra phương án xử lý hấp thụ và hấp phụ trong cùng một thiết bị xử lý là tháp xử lý khí.

Sau khi ra khỏi thiết bị xử lý khí là tháp hấp phụ, dòng khí sạch được đưa vào ống khói tập trung để tiếp tục phân tán vào khí quyển.

Cặn thu được từ tháp hấp phụ sẽ được thải định kỳ ra trạm xử lý nước thải của nhà xưởng của công ty.

Nồng độ các khí thải đầu ra đạt QCVN 19:2009/BTNMT

Ngoài các biện pháp công nghệ, các biện pháp quản lý cũng đem lại hiệu quả rất lớn trong việc ngăn ngừa ô nhiễm từ việc sử dụng lò hơi như là không đặt ống khói lò hơi ở hướng gió, không đốt lò ở giờ cao điểm, đông người…

Như vậy: Đối với các nhà máy sản xuất sử dụng lò hơi đốt bằng củi, đốt bằng than đá, bằng dầu FO…. việc trước khi đi vào hoạt động sản xuất là cần quan tâm đến việc xử lý khí thải khí thải của các lò hơi phải đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường, để đảm bảo sức khỏe con người là tiêu chí hàng đầu và vẻ mỹ quan môi trường xung quanh.

NƯỚC THẢI Y TẾ

I.  QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI Y TẾ

I.    THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI Y TẾ

Nước thải bệnh viện theo mạng lưới thoát nước riêng dẫn đến hố thu. Trước khi vào hố thu, nước thải được dẫn qua thiết bị lọc rác thô nhằm loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn ra khỏi nước thải để đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình xử lý tiếp theo. Sau đó nước thải sẽ được bơm sang bể điều hòa.
Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu, đồng thời có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Nước thải được bơm từ bể điều hòa vào bể UASB. Tại bể UASB, các vi sinh vật kỵ khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản và khí Biogas (CO2, CH4, H2S, NH3…), theo phản ứng sau :
Chất hữu cơ + Vi sinh vật kỵ khí  →  CO2 + CH4 + H2S + Sinh khối mới + …
Sau bể UASB nước thải được dẫn qua cụm bể anoxic và MBBR. Bể anoxic kết hợp MBBR là bước tiến lớn của kỹ thuật xử lý nước thải. Giá thể này có dạng cầu với diện tích tiếp xúc từ  350 m2 – 400 m2/ 1m3. Nhờ vậy sự trao đổi chất, nitrat hóa diễn ra nhanh nhờ vào mật độ vi sinh lớn tập trung trong giá thể lưu động. Vi sinh được di động khắp nơi trong bể, lúc xuống lúc lên, lúc trái lúc phải trong bể MBBR. Lượng khí cấp cho quá trình xử lý hiếu khí đủ để giá thể lưu động vì giá thể nhẹ, xấp xỉ khối lượng riêng của nước. Do tế bào vi sinh đã có nơi để bám dính nên chúng ta không cần bể lắng sinh học mà chỉ lọc thô rồi khử trùng nước. Khi cần tăng công suất lên 10-30% chỉ cần thêm giá thể vào bể là được. Tiếp theo, nước trong chảy qua bể anoxic kết hợp MBBR được bơm lên bể lọc áp lực gồm các lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính để loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học. Sau đó nước thải được bơm qua bể lọc áp lực để loại bỏ lượng SS còn lại, đồng thời khử trùng nước thải. Nước sau khi qua bể lọc áp lực đạt yêu cầu xả thải vào nguồn tiếp nhận theo quy định hiện hành của pháp luật. Bùn ở bể chứa bùn được được bơm qua máy ép bùn băng tải để loại bỏ nước, giảm khối tích bùn. Bùn khô được cơ quan chức năng thu gom và xử lý định kỳ. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi sinh ra do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.

III. ƯU ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI Y TẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP MBR

–    Mật độ vi sinh vật xử lý trên một đơn vị thể tích cao: Mật độ vi sinh vật xử lý trên một đơn vị thể tích cao hơn so với hệ thống xử lý bằng phương pháp bùn hoạt tính lơ lửng, vì vậy tải trọng hữu cơ của bể MBBR cao hơn.

–  Chủng loại vi sinh vật xử lý đặc trưng: Lớp màng biofilm phát triển tùy thuộc vào loại chất hữu cơ và tải trọng hữu cơ trong bể xử lý.

–  Hiệu quả xử lý cao.Tiết kiệm diện tích xây dựng: diện tích xây dựng của MBBR nhỏ hơn so với hệ thống xử lý nước thải hiếu khí đối với nước thải đô thị và công nghiệp.

– Dễ dàng vận hành.

– Điều kiện tải trọng cao: Mật độ vi sinh vật trong lớp màng biofilm rất cao, do đó tải trọng hữu cơ trong bể MBBR rất cao.

IV. THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN

–    Nước thải phát sinh từ rất nhiều khâu khác nhau trong quá trình hoạt động của bệnh viện như: máu, dịch cơ thể, giặt quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn mền cho các giường bệnh, súc rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi, vệ sinh, lau chùi làm sạch các phòng bệnh,…
–     Đây là loại nước thải có chứa nhiều chất hữu cơ và các vi trùng gây bệnh.
–     Nồng độ BOD5, COD trong nước thải không cao, rất thích hợp cho quá trình xử lý sinh học.

Bảng 2.1:Thông số đặc trưng nước thải bệnh viện đầu vào và sau xử lý

TT

Thông số

Đơn vị

Giá trị C

A

B

1

pH

6,5 – 8,5

6,5 – 8,5

2

BOD5 (20oC)

mg/l

30

50

3

COD

mg/l

50

100

4

Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

mg/l

50

100

5

Sunfua (tính theo H2S)

mg/l

1,0

4,0

6

Amoni (tính theo N)

mg/l

5

10

7

Nitrat (tính theo N)

mg/l

30

50

8

Phosphat (tính theo P)

mg/l

6

10

9

Dầu mỡ động thực vật

mg/l

10

20

10

Tổng hoạt độ phóng xạ α

Bq/l

0,1

0,1

11

Tổng hoạt độ phóng xạ β

Bq/l

1,0

1,0

12

Tổng coliforms

MPN/

100ml

3000

5000

13

Salmonella

Vi khuẩn/

100 ml

KPH

KPH

14

Shigella

Vi khuẩn/

100ml

KPH

KPH

15

Vibrio cholerae

Vi khuẩn/

100ml

KPH

KPH

VI. PHƯƠNG PHÁP X LÝ NƯỚC THI BNH VIN

Công nghệ AAO & MBBR là dạng module  hợp khối,  Các module hoạt động độc lập.. Công nghệ này tiết kiệm điện năng, diện tích xây dựng lên đến 50% so với công nghệ truyền thống.
Module có các ngăn:
– Xử lý hiếu khí với giá thể lưu động (Aerobic&MBBR),
– Ngăn  yếm khí (Anaerobic Process).
– Ngăn  thiếu khí (Anoxic) Ngăn  khử trùng.
VII. ƯU ĐIM CA CÔNG NGH MBR           – Ngăn  khử trùng.

3.1    Ngăn xử lý kị khí
Nước thải bệnh viện tuy các chỉ danh COD, BOD không lớn lắm song trong nước thải bệnh viện có các thành phần chất ô nhiễm như: máu, mủ, nước rửa phim, thuốc kháng sinh…khó phân hủy hiếu khí nên chúng tôi đề xuất phương án kỵ khí nhằm xử lý triệt để các chất ô nhiễm trong nước thải bệnh viện. Chất hữu cơ trong nước thải sau khi xử lý kỵ khí thì sẽ chuyển hóa thành chất khí như: CO, CH4, NH3, H2S…
Nước thải từ bể điều hòa được bơm lên ngăn kị khí, tại đây quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ là quá trình sinh hóa phức tạp tạo ra hàng trăm sản phẩm và phản ứng trung gian. Tuy nhiên, phương trình phản ứng sinh hóa trong điều kiện kỵ khí có thể biểu diễn đơn giản như sau :
Chất hữu cơ  + VSV ——–>  CH4 + CO2 + H2 + NH3 + H2S + Tế bào mới
Một cách tổng quát, quá trình phân hủy kỵ khí xảy ra theo 03 giai đoạn :
–    Giai đoạn 1 (Thủy phân): cắt mạch các hợp chất cao phân tử thành các chất hữu cơ đơn giản hơn như monosacarit, amono axit hoặc các muối pivurat khác.
–    Giai đoạn 2 (Acid hóa): chuyển hóa các chất hữu cơ đơn giản thành các loại axit hữu cơ thông trường như axit axetic hoặc glixerin, axetat,…
•    CH3CH2COOH + 2H2O → CH3COOH + CO2 + 3H2
Axit prifionic                           axit axetic
•    CH3CH2 CH2COOH + 2H2O → 2CH3COOH + 2H2
Axit butiric                                   axit axetic
–    Giai đoạn 3 (Acetate hóa): giai đoạn này chủ yếu dùng vi khuẩn lên men mêtan như Methanosarcina và Methanothrix, để chuyển hóa axit axetic và hyđro thành CH4 và CO2.
•    CH3COOH  → CO2  + CH4
•    CH3COO- + H2O  → CH4 + HCO3-
•    HCO3- + 4H2 → CH4 + OH- + 2H2O
Tại ngăn kị khí, chúng tôi xử lý sinh học kị khí dòng chảy ngược qua lớp bùn, là công nghệ Hà Lan đã được kiểm chứng qua rất nhiều công trình trình thế giới. Các vách hướng dòng xáo trộn dòng nước thải với bùn hoạt tính thúc đẩy quá trình phân hủy chất hủy cơ nhanh hơn. Nước sau đó tự chảy tràn qua ngăn hiếu khí
   3.2 Ngăn xử lý hiếu khí:  
Phương pháp sinh học hiếu khí sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục. Các vi sinh vật này sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế bào mới, một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3-, SO42-,… Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa.
Tốc độ quá trình oxy hóa sinh hóa phụ thuộc vào nồng độ các chất hữu cơ, hàm lượng các tạp chất, mật độ vi sinh vật và mức độ ổn định lưu lượng của nước thải ở trạm xử lý. Ở mỗi điều kiện xử lý nhất định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng oxy hóa sinh hóa là chế độ thủy động, hàm lượng oxy trong nước thải, nhiệt độ, pH, dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng… Tải trọng chất hữu cơ của bể sinh học hiếu khí thường dao dộng từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm. Nồng độ oxy hòa tan trong nước thải ở bể sinh học hiếu khí cần được luôn luôn duy trì ở giá trị lớn hơn 2,5 mg/l.
Tốc độ sử dụng oxy hòa tan trong bể sinh học hiếu khí phụ thuộc vào:
–    Tỷ số giữa lượng thức ăn (chất hữu cơ có trong nước thải) và lượng vi sinh vật: tỷ lệ F/M;
–    Nhiệt độ;
–    Tốc độ sinh trưởng và hoạt độ sinh lý của vi sinh vật (bùn hoạt tính);
–    Nồng độ sản phẩm độc tích tụ trong quá trình trao đổi chất;
–    Lượng các chất cấu tạo tế bào;
–    Hàm lượng oxy hòa tan.
Về nguyên tắc phương pháp này gồm 3 giai đoạn như sau:
•    Chuyển các chất ô nhiễm từ  pha lỏng tới bề mặt tế bào vi sinh vật;
•    Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào;
•    Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản sinh năng lượng và tổng hợp tế bào mới.
Cơ chế quá trình xử lý hiếu khí:
•    Giai đoạn I – Oxy hóa toàn bộ chất hữu cơ có trong nước thải để đáp ứng nhu cầu năng lượng của tế bào
•    Giai đoạn II (Quá trình đồng hóa) – Tổng hợp để xây dựng tế bào
•    Giai đoạn III (Quá trình dị hóa) – Hô hấp nội bào

–    Tất cả mọi thiết kế đều nhằm mục đích là hiệu quả xử lý, tiết kiệm năng lượng. Với công nghệ sinh học xử lý nước thải, chúng ta cần mật độ vi sinh vật cao nhằm mục đích đẩy nhanh quá trình oxy hóa sinh hóa. Nói nôm na là càng nhiều vi sinh oxi hóa chất hữu cơ có trong nước thì quá trình xử lý sẽ nhanh hơn. Vấn đề ở đây là làm sao cho bề mặt tiếp xúc giữa nước thải, oxi và vi sinh vật càng cao càng tốt.

–    Giá thể lưu động MBBR(Moving Bed Biological Reactor) được ứng dụng rộng rãi trên thế giới vài năm trở lại đây. Giá thể MBBR dạng hình cầu có kích thước Ø25cm, có tỷ trọng nhẹ hơn nước, sẽ cân bằng với tỷ trọng nước khi vi sinh bám dính nhằm cho vật liệu ở dạng lơ lững. Trong quá trình sục khí giá thể vi sinh sẽ di chuyển khắp nơi trong bể MBR. Các giá thể này cho phép tăng mật độ vi sinh lên đến 9000-14000 g/m3. Với mật độ này các quá trình Oxy hóa để khử BOD, COD và NH4 diễn ra nhanh hơn gần 10 lần so với phương pháp truyền thống. (Ở phương pháp bùn hoạt tính Aeroten thông thường nồng độ vi sinh chỉ đạt 1.000-1.500 g/m3, ở các thiết bị với đệm vi sinh bám dính cố định chỉ đạt 2.500-3.000 g/m3). Do đó, thời gian lưu nước thải của bể MBBR chỉ cần 3 – 4h, trong khi bể Aeroten là 6 – 12h, nhờ đó tiết kiệm được  công suất máy thổi khí, ½ diện tích xây dựng so với bể sinh học hiếu khí Aerotank.
Điều quan trọng hơn nữa của phương pháp MBR là chúng ta không cần phải tuần hoàn bùn hiếu khí lại như phương pháp Aeroten. Nhược điểm của việc tuần hoàn bùn là làm suy yếu vi sinh hiếu khí vì vi sinh phải nằm ở bể lắng (không có dưỡng khí là oxi hòa tan) khi bơm bùn hoàn lưu về bể aeroten làm cho vi sinh bị “shock”.
Nước sau đó tự chảy tràn qua ngăn thiếu khí
 Ngăn thiếu khí (Anoxic)
Là nơi lưu trú của các chủng vi sinh khử N, P, nên quá trình nitrat hoá và quá trình photphoril hóa xảy ra liên tục ở đây.
      Quá trình nitrat hóa:
•    Hai loại vi khuẩn chính tham gia vào quá trình này là Nitrosomonas và Nitrobacter. Khi môi trường thiếu ôxy, các loại vi khuẩn khử nitrat Denitrificans sẽ tách ôxy của nitrat (NO3-) và nitrit (NO2-) để ôxy hóa chất hữu cơ. Nitơ phân tử N2 ¬ tạo thành trong quá trình này sẽ thoát khỏi nước.
•    Quá trình chuyển hóa NO3-→ NO2-→ NO → N2O →N2 với việc sử dụng mêtanol được thể hiện ở phương trình sau:
NH4+          Oxidation          NO2-  + NO3- + H+ + H2O
NO2-, NO3-        Redution              N2   => escape to air

       Quá trình photphoril hóa

•    Vi khuẩn tham gia vào quá trình photphoril hóa là Acinetobacter sp. Khả năng lấy photpho của vi khuẩn này sẽ tăng lên rất nhiều khi cho nó luân chuyển các điều kiện hiếu khí và kỵ khí.
•    Quá trình photphoril hóa được thể hiện như phương trình sau:
PO4-3            Microorganism                (PO4-3)salt   =>sludge
Để nitrat hóa,  photphoril hóa thuận lợi, tại ngăn Anoxic bố trí máy khuấn trộn chìm với tốc độ khuấy trộn phù hợp. Nước thải từ ngăn này tự chảy tràn qua ngăn khử trùng.
  Ngăn khử trùng
Khử trùng là biện pháp bắt buộc theo quy định của nhà nước, nhằm loại bỏ tất cả các loại vi khuẩn, vi rút có trong nước thải sau quá trình xử lý, để đảm bảo điều kiện vệ sinh và tránh các dịch bệnh mà các vi khuẩn đó gây ra.
Ngoài việc diệt các loại vi khuẩn gây bệnh, quá trình này còn tạo điều kiện để oxy hóa các chất hữu cơ và đẩy nhanh các quá trình làm sạch nước thải. Hóa chất dùng trong quá trình này là clo.
–    Khử trùng: Khi đưa Cl vào nước, Cl sẽ bị thủy phân theo phản ứng sau:
Cl2 + H2O ↔ HCl + HOCl
•    Axit hypocloric HOCl rất yếu, không bền và dễ phân hủy ngay thành HCl và ôxy nguyên tử, hoặc có thể phân ly thành H+ và OCl-
HOCl ↔ HCl + O
HOCl ↔ H+ + OCl-
Tất cả các chất HOCl, OCl- và O là các chất oxy hóa mạnh, các chất này oxy hóa nguyên sinh chất và khử hoạt tính của men, làm tế bào bị tiêu diệt

Nước Thải sinh hoạt

Xử lý nước thải sinh hoạt là xử lý lượng nước qua sử dụng của con người. Đó có thể là nước thải nhà vệ sinh, tắm giặt, nước từ nhà bếp, tẩy rửa… Đặc điểm của nước thải sinh hoạt thường có thể nhận thấy bằng cách chia làm hai loại:

– Nước thải sinh hoạt do các chất thải sinh hoạt gây ra: Các chất rửa trôi, vệ sinh sàn nhà và cặn bã từ nhà bếp.

– Nước từ các nhà vệ sinh: nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người.

Các nơi phát sinh nước thải sinh hoạt như: tòa nhà, khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, nhà ở hay khu dân cư. Cần phải xử lý nước thải sinh hoạt trước khi xả thải để tránh gây ô nhiễm môi trường.

Các thành phần ô nhiễm tổng quát của nước thải sinh hoạt chủ yếu có nguồn gốc hữu cơ dễ phân hủy sinh học (60% hữu cơ, 40% vô cơ). Các chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt có tính chất hóa học như protein, hydrat carbon, chất béo, dầu mỡ, Ure. Các chất dinh dưỡng như nitơ và phốtpho cũng gây ô nhiễm nước (phú dưỡng hóa). Nitơ trong nước thải sinh hoạt tính theo NTK (nito hữu cơ và amoni) thường chiếm 15 – 20 BOD, khoảng 10 – 15g/người/ngày đêm. Photpho khoảng 4g/người/ngày đêm. Các chất hoạt động bề mặt như ABS dùng để tẩy rửa gây nên hiện tượng sủi bọt trắng ở bể. Các chất vô cơ trong nước thải sinh hoạt như: cát, đất sét, các axit, bazơ vô cơ, dầu khoáng… Ngoài ra nguồn nước thải sinh hoạt có chứa một lượng lớn vi khuẩn tính theo Coliform cũng được tính là thành phần ô nhiễm. Vì vậy, việc xử lý nước thải sinh hoạt là thật sự cần thiết.

Một số chỉ tiêu ô nhiễm của xử lý nước thải sinh hoạt:

BOD­5 (NOS5) từ 110 mg/l đến 400 mg/lít, COD (NOH) 220 – 1000 mg/l. Nitơ tổng 20 –80 mg/l, tổng phốtpho 4 – 15 mg/l. TSS 350 – 1200 mg/l. Colifrom 10­­­­­­,000 – 1,000,000 No/100 mg/l.

Nhìn vào các thông số ô nhiễm cơ bản trên chúng ta hiểu được tầm quan trọng của việc cần phảixử lý nước thải sinh hoạt trước khi xả ra nguồn tiếp nhận

Nguồn tiếp nhận nước thải là kênh rạch, sông hồ, suối, biển. Một số nguồn là nơi hệ sinh vật và nước tạo cảnh quan đô thị, một số nơi lại là nguồn nước ngọt quý giá, sống còn của đất nước, nếu bị ô nhiễm bởi nước thải thì chúng ta sẽ phải trả giá đắt và hậu quả khôn lường. Vì vậy chúng ta phải đưa ra các công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt thích hợp để bảo vệ nguồn nước.

Công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt thường sử dụng biện pháp xử lý sinh học. Biện pháp xử lý sinh học ở đây là dùng vi sinh chuyển hóa các chất ô nhiễm có trong nước thải thành các chất khác không gây ô nhiễm nước nữa (CO­2, CH­4, H2S và tế bào vi sinh).

Có nhiều công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt ,tuy nhiên sử dụng công nghệ AAO sẽ là hợp lý hơn cả. Đối với các hệ thống xử lý nước thải cần nâng công suất hay không có diện tích buộc phải sử dụng công nghệ bậc cao thì lựa chọn công nghệ AAO và MBBR là giải pháp tối ưu nhất.

Các công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt trên đều do chúng tôi tham gia làm mới, cải tạo. Nước thải sau xử lý đều đạt loại A theo QCVN 14: 2008/BTNMT.

Quý khách hàng có nhu cầu xây mới công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt hãy liên hệ chúng tôi để có công nghệ xử lý nước thải tốt nhất, giá thành rẻ nhất, chất lượng nước thải sau xử lý tốt nhất.

Bác sĩ YecXanh

Bác sĩ yecxanh là ai?

Alexandre Yersin hay còn gọi là Yecxanh là một bác sỹ Pháp gốc Thụy Sỹ, ông sinh ngày 22-9-1863 tại Thụy Sĩ  và năm 24 tuổi ông nhập quốc tịch Pháp. Ông học y khoa năm 20 tuổi, tốt nghiệp đại học Pari năm 1998 và là học trò xuất sắc của nhà vi trùng học nổi tiếng như Pasteur, Koch. Ông từng cộng tác với bác sĩ Roux tìm ra thuốc chữa bệnh dịch hạch.

Lúc mới 26 tuổi, Yecxanh đã nổi tiếng trong giới khoa học quốc tế. Ông đã rời bỏ Paris để lên đường sang Đông Dương vào cuối năm 1889. Lúc đó ông là y sĩ làm việc cho hãng tàu thủy Messageries Maritimes, mỗi lần tàu cập bến Nha Trang ông lại thích thú ngắm nhìn dãy Trường Sơn hùng vĩ, nghe niềm đam mê mạo hiểm thôi thúc và rồi ông quyết định đi bộ từ Nha Trang vào Sài Gòn. Tháng 7-1890, từ Nha Trang ông đi ngựa vào Phan Rí rồi nhờ người dẫn đường lần mò trong rừng thẳm, hai ngày sau ông đến Di Linh.

Ngày 21-6-1893, Yecxanh tìm ra cao nguyên Lang Biang – Đà Lạt. Lúc đó vùng này chỉ có thưa thớt vài làng người dân tộc Lát. Yersin đã đề nghị Toàn quyền Paul Doumer thành lập ở đây một thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh. Năm 1898, thành phố Đà Lạt được khởi công xây dựng… Năm 1894, bác sĩ Yecxanh dẫn theo 15 người khám phá các tỉnh Đắklắk và Kon Tum…

Năm 1895, sau khi lập Viện Pasteur Nha Trang, Yersin trở về Pháp để cùng các bác sĩ Calmette (được đặt tên đường ở Việt Nam cùng với Yersin) và Roux nghiên cứu thuốc trị bệnh dịch hạch. Ngoại trừ mấy năm (1902-1904) ra Hà Nội mở trường Cao đẳng Y khoa và về Pháp mấy lần thăm bác sĩ Roux, thời gian còn lại cho đến cuối đời, Yersin chỉ sống và làm việc tại Viện Pasteur Nha Trang. Ở đây ông cùng các cộng sự chuyên quan sát súc vật và tìm ra thuốc phòng và chữa bệnh cho trâu, bò…

Từ năm 1905-1918, Yecxanh làm Giám đốc hai Viện Pasteur Sài Gòn và Nha Trang. Năm 1925 là Tổng thanh tra các viện Pasteur Đông Pháp. Năm 1933, sau khi các bác sĩ Roux và Calmette từ trần, ông được mời về Pháp để nối tiếp chức vụ Viện trưởng Viện Pasteur Paris lừng danh thế giới nhưng ông đã từ chối vì có ý định ở lại Việt Nam cho đến mãn đời. Tên của bác sĩ Yersin vẫn có trong “Bác sĩ học viện” và “Y học Hàn lâm viện”, được thưởng Nhị đẳng Bắc đẩu bội tinh và nhiều huy chương quốc tế…

Ngày 1-3-1943, bác sĩ Yersin qua đời tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi. Ông được an táng trên một ngọn đồi ở đồn điền Suối Dầu. Theo di chúc của ông, đám tang đã diễn ra cực kỳ đơn giản nhưng hầu như tất cả người dân trong khu vực, từ người trí thức cho đến người dân quê mùa đều lũ lượt đến thắp hương tỏ lòng thương tiếc ông – một người bác sĩ ngoại quốc có tấm lòng nhân hậu vô biên. Ông xứng đáng là một thầy thuốc trứ danh, một nhà mạo hiểm can trường, một nhà nông học uyên bác…

1 2
 

Liên Hệ

Bạn cần tư vấn hoặc muốn liên hệ với chúng tôi hãy sử dụng biểu mẫu bên dưới để liên hệ.

Thông tin liên hệ

  • Điện thoại: (028)  6682 1570
  • Di động: 0932 139 806

Địa chỉ: E1/2 C8 Quách Điêu, ấp 5, Xã Vĩnh Lộc A, Huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh

Monday - Saturday

Sed haec quis possit intrepidus aestimare tellus. Integer legentibus erat a ante historiarum dapibus. Ullamco laboris nisi ut aliquid ex ea commodi consequat. Me non paenitet nullum festiviorem excogitasse ad hoc. Mercedem aut nummos unde unde extricat, amaras. Ab illo tempore, ab est sed immemorabili.